Chữ Chạy

NẾU TIỀN LÀM CHO CÁC BẠN KHÔNG VUI HÃY ĐƯA NÓ CHO TÔI

Trang

21 tháng 10, 2011

Trường đại học Nordjvlland (UCN) ở Aalborg, Đan Mạch

Công ty kiến trúc GPP Architects trong năm 2010 đã đoạt được giải nhất trong cuộc thi thiết kế Trường đại học Nordjvlland (UCN), một trung tâm giáo dục mới tại Aalborg, Đan Mạch. Dự án có diện tích rộng 35.000 m2 được GPP Architects cộng tác chung với Kontur Architects, Thing & Waino Landscape và Ulla Kjaervang dành cho chủ đầu tư đồng thời là tư vấn kỹ thuật MT Hojgaard.


Trường đại học Nordjvlland (UCN) ở Aalborg, Đan Mạch

Dự án được tọa lạc ngay tại khu vực Eternit trước đây, ngay trung tâm khu vực Aalborg. Khu đất có lịch sử là một trong những khu vực công nghiệp chính của thành phố, mang lại cho công trình một đặc điểm nhận dạng đặc biệt như là một khu vực nơi công nghiệp và tri thức hội nhập.

Tòa nhà UCN IMAGO là một trung tâm giáo dục, bao gồm 4 khối công trình được bố trí bao xung quanh một không gian chung. Tất cả 4 khối công trình được định hướng về phía không gian chung này, mỗi khối có một phần phân tán ra từ không gian trung tâm - như một cái cánh của con bướm. Không gian trung tâm là nơi hội tụ cho các hoạt động và gặp gỡ, nơi mà các nguồn tri thức giữa các ngành đa dạng tụ hợp lại với nhau, giúp hình thành nên một môi trường phát sinh ra cuộc sống, tương tác và trao đổi của tri thức.

Trường đại học Nordjvlland (UCN) ở Aalborg, Đan Mạch
Trường đại học Nordjvlland (UCN) ở Aalborg, Đan Mạch
Trường đại học Nordjvlland (UCN) ở Aalborg, Đan Mạch
Trường đại học Nordjvlland (UCN) ở Aalborg, Đan Mạch

Không gian trung tâm có kích thước rộng khổng lồ và độc đáo. Giống như một điểm chính của công trình, nó cho phép sự kết nối thị giác đến từng cánh của công trình, mang lại sự gắn kết và thân thiết trong môi trường giáo dục.

Tầng chính bao gồm các không gian cho công cộng và các hoạt động sinh hoạt nhóm. Các tầng khác bao gồm các khu vực dành cho giảng dạy, được nhóm thành bốn tổ chức riêng biệt theo yêu cầu của chủ đầu tư - bao gồm 3 cánh cho Khoa công nghệ và kinh doanh UCN và 1 cánh phục vụ cho đào tạo giáo dục hướng đến ngành nghề kinh doanh mới.

Công trình được thiết kế với nhiều phòng khác nhau để thư giãn và tìm nơi yên tĩnh. Tại không gian thông tầng cao, bên dưới và dọc theo các ban công, các phòng họp nhỏ được bố trí cho nhóm cũng như cá nhân ngay phía trên giảng đường chính, và cũng như tại tất cả các góc nhỏ và chật hẹp rải rác trên mặt bằng xung quanh công trình.
Trường đại học Nordjvlland (UCN) ở Aalborg, Đan Mạch
Trường đại học Nordjvlland (UCN) ở Aalborg, Đan Mạch
Trường đại học Nordjvlland (UCN) ở Aalborg, Đan Mạch
Trường đại học Nordjvlland (UCN) ở Aalborg, Đan Mạch

Không gian ban công và chìa ra uốn lượn tại không gian trung tâm mang lại một môi trường sinh hoạt. Các không gian này giúp bảo vệ mặt đứng và có vai trò như các tấm che ánh nắng mặt trời, mang lại việc sử dụng không gian lâu hơn tại các lớp học, trước khi các tấm che nắng thật sự được dùng vào buổi chiều. Việc lựa chọn các vật liệu được phụ thuộc vào quá khứ với nền công nghiệp của khu đất. Các tấm thép lượn sóng và các tấm nhôm nhiều màu sắc được sử dụng cho toàn bộ công trình. Phía ngoài công trình được bao bọc bởi các tấm thép không rỉ và bên dưới với các tấm nhôm màu.

Công trình được thiết kế để trở thành một công trình hiệu quả sử dụng năng lượng cao. Ngay từ khi bắt đầu giai đoạn thiết kế, nhóm đã tập trung vào các giải pháp hiệu quả năng lượng, vì thế tác động môi trường và kiến trúc được cân nhắc đồng thời cùng một lúc. Mục đích là sử dụng tối đa các lợi ích tiềm năng của ánh sáng mặt trời, hình thành nên các không gian ngập tràn ánh sáng tự nhiên cũng như là nguồn năng lượng bổ sung miễn phí cho công trình.
KTS Vũ Linh Quang - Công ty Kiến trúc ARDOR Architects (biên dịch từ ArchDaily)

20 tháng 10, 2011

Tuyệt phẩm vườn treo Babilon thời kỳ Lưỡng Hà, Ba Tư



Nền văn minh Lưỡng Hà và Ba Tư thuộc vùng Trung Cận Đông, bắt đầu khoảng 4000 năm trước công nguyên. Lưỡng Hà và Ba Tư có loại hình kiến trúc đa dạng: đền đài, cùng điện, thành quách, kênh mương, nhà ở và tiêu biểu là các công trình Ziggurat (đài chiêm tinh).
Thành Babilon và vườn treo Babilon:
Một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu nhất là thành Babilon. Sự phát triển của thành Babilon thời đại Tân Babilon (thế kỷ VI trước CN) gắn với sự phát triển của gạch lưu ly nổi tiếng. Tân Babilon hay Babilon thứ hai với các di chỉ còn lại và theo miêu tả của nhà sử học Hy Lạp Herodote là có nhiều giá trị. Thành có hai bức tường vây quanh với chu vi là 88km và 66km, bức thành nội có chu vi 16.5km, cao 25-30m, mặt thành rộng 7,5m, thành có 250 vọng lâu, 100 cửa bằng đồng và 9 cửa lớn.
Ở vị trí trung tâm của thành là cung điện dành cho vua và tăng lữ, bên cạnh đó có đền thờ thần Marduk. Đền thờ xây dựng trên một khu đất rộng, kích thước 550-450m. Cạnh đó là Ziggurat Babel. Ngoài ra, khu trung tâm còn có nhiều công trình kiến trúc quan trọng khác là đền thờ Ishtar de Akkad, vườn treo Babilon…
                                            Vườn treo Babilon
Vườn treo Babilon được xem là một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại- được dựng lên vào năm sau, khi Nabucodonosor xây dựng Cung điện hoàng gia của mình.Vườn treo là món quà của vua Nabucodonosor xây dựng cho Hoàng hậu vốn là công chúa người Mefder- là một xứ có núi non hùng vĩ. Công trình nằm giữa sông Euphrates và Cung điện nhà vua, có chiều cao bao quát hết cả một vùng thành phố và khu vực lân cận, là điểm quan sát của những đoàn người, ngựa và lạc đà đi trên vùng Lưỡng Hà rộng lớn. Vườn treo luôn xanh tốt với nhiều loại cây lớn nhỏ khác nhau, do những bộ máy thủy lực và giếng nước, guồng nước bơm nước trên sông lên. Công trình cao 100m, gồm 4 tầng tháp, mỗi tầng cao 25m. Trên mỗi tầng là một vườn phẳng, trồng nhiều cây và hoa mang về từ khắp các nơi. Đáy của phần vườn cây được lát bằng các phiến đá kích thước 5- 1,2m đặt khít nhau và gối trên các hàng cột và tường dày chịu lực.

Nền đất làm bằng đá tảng, phủ gỗ, rồi nhựa sau đó lát gạch, cuối cùng là phủ một lớp chì. Nước không thấm được xuống tầng dưới, mà còn giữ được độ ẩm cho vườn cây, và giảm đáng kể độ võng của các tầng nhà. Riêng tầng 1, lại kết cấu theo kiểu vòm cung đứng vững trên các cột đá hoa cương không chỉ tạo ra vẻ hài hòa mà còn có tác dụng chịu lực đáng kể. Đặc sắc hơn, vườn treo có đầy đủ hoa thơm, cỏ lạ, cây cối từ khắp vùng Babylon và những nước nhà vua đi xâm chiếm được đưa về trồng tại vườn thượng uyển.

Vườn làm theo hướng gọi gió, hương thơm lan tỏa cả một vùng rộng lớn (bán kính hơn 10 km). Hoàng hậu trong những ngày oi ả, thường cùng nhà vua lên đây thưởng ngoạn hoa cỏ trong bóng cây râm mát và có thể nhìn bao quát cả thành phố. Hàng ngày, để tưới cho cây cối trong vườn, cả một hệ thống ống dẫn nước đã được xây dựng, guồng nước lên từ sông Ophrat lên tầng cao. Hàng trăm nô lệ vào gầu ra múc nước ở các bể tưới nước cho cây cối.
Vườn treo 4 mùa xanh tươi, hoa trái rất nhiều, phong phú màu sắc rất đẹp. Đó chính là công sức, trí tuệ của toàn thể Babylon. Một công trình văn hóa nổi tiếng của nhân loại đương thời. Phải chăng dân Babylon có một nền công nghiệp phát triển, đã đẩy mạnh sự trao đổi văn hóa, đã nắm được kỹ thuật trồng trọt canh nông? Và cũng chính người Babylon đã truyền một số cây công nghiệp sang Tây phương, trong đó quan trọng nhất là cây bông.
Vườn treo Babylon được xem là một kỳ quan của thế giới cổ đại. Alexandre đại đế, mấy trăm năm sau, vẫn lấy Babylon làm thủ phủ của đế quốc Hy Lạp. sau cuộc viễn chinh thất bại thảm hại ở Ấn Độ, ông lâm bệnh phải đóng quân ở Babylon. Người ta khiêng giường bệnh của ông lên vườn treo để hưởng không khí trong lành tươi mát. Nhung sức kiệt, bệnh sốt rét đã buộc ông phải rời cõi đời vào tuổi 32...
Thành Dur Sharukin và cung điện Sargon II
Thành Dur Sharukin (hay thành Khorsabad) và cung điện Sargon II được xây dựng ở thượng lưu Lưỡng Hà, dưới thời kỳ nhà nước Ashur.
Thành Dur Sharukin có hình dáng vuông, mỗi cạnh 2km, tường thành dày 50m, cao 20m. Ở những chỗ có cổng thành, chiều dày tường thành lên tới 85m. Thành có nhiều cửa và vọng lâu, trên thành có thể cũng chạy một lúc 4 cỗ chiến xa do ngựa kéo.
Cung điện Sargon II nằm trong một tòa vệ thành ở cạnh phía Tây Bắc của thành phố, được đặt trên bệ đất xây nhân tạo cao 18m để tránh ngập lụt. Do đó có các bậc thang dành cho người đi bộ và lối dành cho xe ngựa kéo dẫn lên cung điện.
                          Phối cảnh tổng thể Cung điện Sargon II.
Cung điện chiếm diện tích 17ha với 210 phòng và 30 sân trong. Tường cung điện làm bằng gạch phơi dày, từ độ cao 1,3 m trở xuống được xây bằng đá.
Chính điện và hậu cung của nhà vua đặt ở phía Bắc, nơi đây có cửa lớn thông ra ngoài thành, tính chất phòng ngự rất mạnh.
Cửa chính cung điện được xây theo kiểu 4 khối trụ hình chữ nhật, mỗi bên cửa chính có hai khối vươn cao. Hai cửa tròn nhỏ hơn trổ hai bên hình thành một kiểu tam quan. Cửa giữa rộng 4,3m, trên tường ốp gạch lưu ly, từ độ cao 3m trở xuống được ốp đá và khắc phù điêu. Hai bên cửa chính và phần chuyển gốc của tháp môn có khắc hình tượng đầu người mình bò.
Phòng chiêu đãi lớn có kích thước 32-8m, trên tường ốp gạch lưu ly tráng men theo hai chủ đề là hình tượng trang trí và những lời chỉ dụ của nhà vua, ngoài ra còn dùng đá để ốp chân tường, làm tấm đan, đầu cột.
Phía Tây cung điện có Ziggurat, phản ánh sự nhất trí giữa thần quyền và vương quyền. Ziggurat có đáy hình vuông 43-43m, cao 4 tầng với chiều cao tổng cộng là 60m.
Cung điện Persepolis của Ba Tư
Cung điện là loại hình chủ yếu của kiến trúc Ba Tư. Dựa trên truyền thống xây dựng Iran và các kinh nghiệm tích lũy được sau khi chinh phục đất nước của các dân tộc khác nên người Ba Tư đã xây dựng được rất nhiều cung điện xa hoa, lộng lẫy.
Cung điện được khởi công xây dựng từ năm 518 tr CN, được đặt trên một nền cao 15m so với khu vực xung quanh với kích thước 450-300m.
Cung điện chia làm 4 khu vực chính:
Khu vực đại sảnh tiếp đón 100 cột của Darius I ( phía Đông Bắc)
Khu vực đại sảnh tiếp đón của Xerxes I (phía Tây Bắc)
Khu vực các phòng châu báu (phía Đông Nam)
Khu vực hậu cung (phía Tây Nam)
                                Mặt bằng cung điện Persepolis
Đại sảnh tiếp đón hay đại diện nghi lễ do Xerxes I hoàn tất xây dựng, là công trình đáng tự hào nhất của quần thể Persepolis. Công trình bao gồm một đại sảnh trung tâm (62,5m- 62,5m), mái được đỡ bởi 36 cột đá, mỗi cột cao 18,6m, xung quanh được phù trợ bởi ba không gian, mỗi khong gian có hai hàng cột thức. Các hàng cột thức cách từ tâm đến tâm 8,74m, tỷ lệ đường kình và chiều cao cột là 1: 12. Bốn cột ở đại diện có thể mở cửa hãm bên trên, lấy ánh sáng chiếu vào. Hàng cột thức phí Tây còn dùng để làm khan đài xem duyệt binh.
Cột đá của cung điện làm bằng đá cẩm thạch màu sẫm, tường làm bằng gạch nung, mặt tường ốp đá hoa cương đen, trắng hoặc ốp gạch lưu ly. Đầu cột là những tác phầm điêu khắc tinh xảo, được tạc hình ảnh hai con bò quỳ giáp lưng vào nhau. Chiều cao của các bộ phận đầu cột chiếm 2/5 tổng chiều cao cột.
Ở mỗi thời kỳ đều có đặc điểm kiến trúc riêng, đối với kiến trúc Lưỡng Hà và Ba Tư, ngoài những công trình đền đài, thành quách thì vườn treo Babilon luôn nổi bật về sự độc đáo, kỹ vĩ có một không hai.
Duyên Anh - Theo Bee

10 thành phố đảo đẹp nhất thế giới

Cùng điểm qua 10 thành phố đảo tuyệt đẹp nằm giữa biển, và đã từng không ít lần được các nhà làm phim chọn làm địa điểm quay ngoại cảnh.

Venice
10 thành phố đảo đẹp nhất thế giới, Phi thường - kỳ quặc, thanh pho dao, quan dao, dep nhat, the gioi
Nổi tiếng khắp thế giới với hệ thống kênh đào, Venice được xây dựng thành một thành phố đảo từ 117 hòn đảo được nối với 455 chiếc cầu. Vào thời chính quyền cũ, hệ thống kênh đào được sử dụng như đường đi lại, và hầu hết mọi giao dịch, vận chuyển đều thực hiện bằng hai cách: đường biển và đường bộ.
Manhattan
10 thành phố đảo đẹp nhất thế giới, Phi thường - kỳ quặc, thanh pho dao, quan dao, dep nhat, the gioi
Manhattan là một trong năm khu trực thuộc thành phố New York, và là nơi mà người ta thường nghĩ đến nếu có ý định chụp hình lưu niệm ở thành phố này. Manhattan thực sự là một thành phố đảo vô cùng nổi tiếng trong việc thu hút các du khách thường xuyên đến đây tại New York. Ngày nay, Manhattan là một trong những hòn đảo nổi tiếng nhất thế giới, chỉ tính riêng trong năm 2008, hòn đảo này đã có 1.634.795 người định cư, với tổng diện tích là 59,47 km2.
Male
10 thành phố đảo đẹp nhất thế giới, Phi thường - kỳ quặc, thanh pho dao, quan dao, dep nhat, the gioi
Male là thủ đô và là thành phố nổi tiếng nhất tại Maldives, với hơn 100.000 người chen chúc nhau sống trên một hòn đảo nhỏ. Vì không có những vùng nông thôn tỉnh lẻ gần đó nên tất cả các cơ sở hạ tầng đều được đặt tại thành phố này. Trong khi nước uống được cung cấp từ khu nước được khử muối thì nguồn điện sử dụng trong thành phố đều được tận dụng từ năng lượng diesel.
Flores
10 thành phố đảo đẹp nhất thế giới, Phi thường - kỳ quặc, thanh pho dao, quan dao, dep nhat, the gioi
Flores nằm tại hồ Peteteen Itza và được nối với đất liền bằng đường bờ đắp cao, nằm ở giữa hai thị trấn sinh đôi Santa Elena và San Benito. Đối với nhiều du khách, nguyên nhân chính để họ đến thăm quan Flores chính là sự gần gũi với những tàn tích chiến tranh nổi tiếng Maya. Thế nhưng chính bản thân thành phố đảo này đã là một điểm đến tuyệt vời, đầy thuộc địa, tòa nhà mái đỏ và đường đá sỏi hẹp, nhà thờ lịch sử và hàng loạt những khách sạn cũng như nhà hàng lớn.
Nesebar
10 thành phố đảo đẹp nhất thế giới, Phi thường - kỳ quặc, thanh pho dao, quan dao, dep nhat, the gioi
Thường được gọi là “Hòn ngọc biển đen”, Nesebar là một thành phố đảo giàu có và đã có hơn 3000 năm thay đổi lịch sử. Phần cổ kính của thị trấn nằm trên một hòn đảo nối với đất liền bằng một đường đắp cao, và nó mang bằng chứng về sự phát triển hàng loạt các văn minh khác nhau trong suốt quá trình tồn tại của nơi đây. Nesebar đôi khi được xem là thị trấn có số lượng nhà thờ cao nhất và là đại diện di sản kiến trúc phong phú của Chính thống giáo phương Đông.
Trogir
10 thành phố đảo đẹp nhất thế giới, Phi thường - kỳ quặc, thanh pho dao, quan dao, dep nhat, the gioi
Nằm gần thành phố của Split, Trogir là một trong những thị trấn cổ được bảo toàn kỹ nhất ở Châu Âu. Với những đường phố cổ đầy mê hoặc được trải dài trên thành phố đảo, khuất sau đó là những nhà hàng và phòng trưng bày bắt mắt. Chưa kể sự pha trộn giữa các kiến trúc Roman, Gothic và Trogic càng làm cho thị trấn nơi đây đẹp hơn với phong cách cổ kính.
Mexcaltitan
10 thành phố đảo đẹp nhất thế giới, Phi thường - kỳ quặc, thanh pho dao, quan dao, dep nhat, the gioi
Mexcaltitan là một thành phố đảo do con người tạo nên, nằm ngoài bờ biển Thái Bình Dương của Mexico. Các thị trấn nằm thấp ở các đầm lầy, rừng ngập mặn và bờ kênh bao quanh nó, trong suốt mùa mưa vào tháng 6 và tháng 10, nước lũ ngập khắp đường và ai ai cũng phải đi lại bằng thuyền.
Isola Dei Pescatori
10 thành phố đảo đẹp nhất thế giới, Phi thường - kỳ quặc, thanh pho dao, quan dao, dep nhat, the gioi
Isola Dei Pescatori là một trong ba đảo chủ yếu nằm ở phía Bắc của Borromean, Lago Maggiore. Với dân số khoảng 50 người, nơi đây chỉ là một hòn đảo để người dân sinh sống quanh năm suốt tháng. Trong khi các nghề truyền thống vẫn tồn tại, thì tại nơi đây, chính vẻ đẹp truyền thống của nó đã khiến cho nguồn thu nhập của đảo ngày một tăng lên nhờ vào lượng khách du lịch thường xuyên ghé đến.
Santa Cruz Del Islote
10 thành phố đảo đẹp nhất thế giới, Phi thường - kỳ quặc, thanh pho dao, quan dao, dep nhat, the gioi
Nằm ngoài khơi bờ biển Carribe của Colombia, Santa Cruz del Islote không được chính thức được xem là quần đảo đông dân nhất thế giới. Với 90 ngôi nhà và dân số khoảng 1.200 người chen chúc nhau sống trên đảo chỉ với diện tích 1 hecta. Sau khi những người dân trên đảo qua đời, thi thể của họ sẽ được di dời sang một hòn đảo gần đó để chôn cất, vì tại đây không đủ không gian để làm nghĩa trang.
Lindau
10 thành phố đảo đẹp nhất thế giới, Phi thường - kỳ quặc, thanh pho dao, quan dao, dep nhat, the gioi
Thành phố lịch sử Lindau tọa lạc gần biên giới giữa Áo, Đức và Thụy Sĩ, nằm ở phía Đông hồ Constance (Bodensee). Thành phố nối với đất liền bằng cầu và đường sắt, ngoài ra tại đây cũng có khoảng 3.000 cư dân.

18 tháng 10, 2011

Lựa chọn bộ nguồn máy tính như thế nào để tốt nhất cho hệ thống của bạn ?




Thật đáng tiếc, cho tới tận ngày nay, nhiều người vẫn xem bộ nguồn máy tính (PSU) là một thành phần không quan trọng của một chiếc PC. Đây là một quan niệm sai lầm cần được thay đổi. PSU là nguồn cung cấp điện năng duy nhất đến các thiết bị bên trong chiếc máy tính cá nhân, nếu công suất không đủ, chất lượng nguồn điện không tốt và không ổn định thì nó có thể làm hư hỏng toàn bộ hệ thống, cho dù ngay cả với hệ thống máy tính cao cấp và đắt tiền nhất.

Thường thì người ta cứ chọn loại PSU có công suất mà mình nghĩ là “thích hợp” với giá rẻ mà mua. Chính điều này đã làm cho cả một con PC mới toanh của bạn chạy ỳ ạch không như ý với nhiều lỗi không giải thích được.
Vậy để chọn mua đúng PSU phù hợp với chiếc máy tính mà mình đang tính ráp hay nâng cấp, bạn cần quan tâm tới những điều gì?



1. Công suất.

Nếu bạn đã tính được nhu cầu tiêu thụ công suất của máy tính thì việc chọn mua một PSU có công suất phù hợp thật đơn giản, tốt nhất bạn hãy cộng thêm từ 20% đến 30% công suất dự phòng thêm vào công suất đã tính.
Nếu bạn thường vào Internet thì một địa chỉ khá tin cậy là Website:www.extreme.outervision.com/index.jsp sẽ giúp bạn tính được công suất của bộ máy mà mình muốn ráp bằng cách đơn giản là chọn ra các thiết bị máy tính của mình hiện có hoặc sẽ có và Website sẽ tự động tính ra tổng công suất PSU cho bạn. Dựa vào kết quả này, bạn có thể yên tâm lựa một bộ nguồn có công suất hiệu dụng thích hợp.
Trường hợp thứ 3, bạn có thể chọn cho mình một PSU có công suất phù hợp với nhu cầu bằng cách hãy trích ra 10% giá trị của chiếc máy mà bạn tính ráp để mua PSU. Thí dụ với một chiếc máy có giá trị 6 triệu đồng (không kể màn hình) thì cấu hình của nó không thể nào sử dụng nguồn điện quá 300W, và 600 ngàn đồng (10% trị giá máy), bạn sẽ có được một PSU có công suất 350W từ các thương hiệu đáng tin cậy.
Tiêu chuẩn ATX12V đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật riêng cho PSU, nó luôn thay đổi để phù hợp với nhu cầu tiêu thụ năng lượng của các thế hệ thiết bị máy tính mới. Hiện nay với phiên bản mới nhất là 2.3, yêu cầu các PSU phải có công suất đường điện +12VDC cao hơn các đường còn lại để đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ cao hơn của các thiết bị mới. Khi mua một PSU, nếu chỉ dựa trên công suất danh định in trên nhãn thì bạn hoàn toàn không phát hiện ra điều này, khi không chú ý kỹ các thông số kỹ thuật về dòng điện trên từng đường. Ví dụ, cùng có công suất 400W, nếu PSU được sản xuất theo chuẩn ATX rev 1.3 thì công suất của các đường điện chính sẽ có dạng như sau:



Nhưng cũng với công suất đó trên chuẩn ATX rev 2.0 thì:

Do vậy, bạn không nên chọn mua các PSU có phiên bản ATX12V cũ hơn 2.0. Điều này sẽ giúp PSU dễ dàng tương thích với cấu hình máy tính mới của bạn. Các phiên bản cũ chỉ thích hợp cho việc nâng cấp máy tính với các cấu hình ráp trước đây 3 năm.



2. Xem công suất ghi trên nhãn

Các thông tin về công suất luôn được nhà sản xuất ghi trên vỏ hộp và trực tiếp trên nhãn. Bạn nên đọc các thông tin này trước khi mua, không nên tin tưởng hoàn toàn thông tin được ghi trên bảng báo giá vì chúng thường không chính xác, nhất là với các dòng PSU phổ thông. Một nhãn với các thông tin đầy đủ phải có các thông tin sau:
Mức điện áp AC phù hợp (AC INPUT).
Dòng điện DC cung cấp tối đa của từng đường (MAX OUTPUT CURRENT).
Công suất tối đa mà các đường điện DC có thể cung cấp (MAX COMBIEND WATT).
Tổng công suất bộ nguồn (TOTAL POWER).



Một nhãn có thông tin rõ ràng

Tránh mua các PSU có nhãn ghi thông số nghèo nàn, thiếu thông tin công suất của từng đường và thông tin tổng công suất PSU. Bạn nên chú ý, tên gọi hay tên gọi kiểu (model) của PSU không thể hiện mức công suất thật của PSU đó, nó chỉ là một chiêu câu khách của nhà sản xuất. Thí dụ như nhãn phía dưới với tên gọi là MODEL: P4-450W nhưng thực chất PSU này chỉ có công suất 138W. Cũng với nhãn này, bạn không thể tìm thấy thông tin công suất của từng đường cũng như tổng công suất của nó.
Một số thương hiệu PSU có công suất không đảm bảo đúng với công suất được quảng cáo: ARROW, BEVOD, COLORSit, DeLUX, DRAGON, eMaster, FRONTIER, GOLDEN, M@GIC, MAXIMA POWER, ORIENT, PEGASUS, POCA, SWITCH POWER SUPPLY hay EVEREST, SD, SP, Vertex, Vision 3G,...
Một số thương hiệu có chất lượng và công suất đảm bảo như: AcBel, Cooler Master, Gigabyte, ASUS, FSP, Seasonic, SliverStone, Corsair.



Một nhãn PSU có các thông tin nghèo nàn và không chính xác.



3. Hiệu suất của PSU

Tiết kiệm điện hiện nay là một tiêu chí quan trọng cho việc chọn mua các sản phẩm tiêu thụ điện năng. Do vậy, bạn nên chọn mua các PSU có hiệu suất hoạt động cao. Thế nhưng, thông tin này chỉ được thể hiện trên những PSU “hàng hiệu” chính hãng (trên Website của hãng hay được in trực tiếp trên vỏ hộp đựng sản phẩm). Một PSU đạt tiêu chuẩn phải có hiệu suất tối thiểu cũng phải trên 70%. Nếu muốn mua các PSU chắc chắn có hiệu suất cao hơn 70%, bạn nên chọn các sản phẩm có tem chứng nhận 80Plus (hiệu suất từ 80% trở lên).



4. Đầu cấp nguồn và cáp

Chọn mua một PSU có nhiều đầu kết nối sẽ giúp bạn dễ dàng chọn mua thiết bị khác và tăng khả năng nâng cấp về sau. PSU luôn phải có 2 đầu kết nối chính với mainboard là ATX và ATX12V. Đế cắm nguồn ATX thông dụng hiện nay trên các mainboad là loại có 24 chân cắm. Còn thế hệ mainboard cũ chỉ dùng đế cắm ATX 20 chân. Vì thế một số PSU cung cấp một dạng đầu cắm linh hoạt 20+4 chân với 4 chân có thể tháo rời ra khi sử dụng trên mainboard đời cũ. Một số PSU công suất thấp dưới 300W thường chỉ có đầu cắm 20 chân, nhưng bạn không nên lo lắng khi sử dụng PSU này trên mainboard có đế cắm ATX 24 chân vì nó vẫn tương thích và hoạt động tốt cho dù thiếu đi 4 chân.
Cũng như vậy, đế cắm ATX12V cung cấp năng lượng cho CPU thông dụng hiện nay là loại 8 chân. Nếu PSU của bạn chỉ có đầu cắm ATX12V 4 chân, bạn phải dùng một cáp đổi adapter để chuyển đầu cắm từ 4 chân thành 8 chân. Tuy nhiên, giải pháp này chỉ mang tính xài tạm, có một số mainboard sẽ không đủ điện trong các tác vụ nặng hay trong chế độ ép xung.
Với các máy tính có ý định gắn card đồ họa mạnh, PSU phải có ít nhất 1 đầu cấp nguồn PCI-Express 6 chân (có 2 đầu thì càng tốt). Do ngày nay các thiết bị lưu trữ như HDD, ổ đĩa quang đều dùng giao tiếp SATA, PSU có càng nhiều đầu cắm nguồn SATA càng tốt. PSU có nhiều đầu cấp nguồn luôn tốt hơn.




5. Quạt làm mát và độ ổn của PSU

Để giải quyết vấn đề nhiệt độ cho các linh kiện công suất trong PSU, tất cả các PSU hiện nay đều dùng phương pháp tản nhiệt bằng không khí là chính nên hầu hết đều dùng quạt để làm mát. Hiện nay, các bộ quạt 80cm cũ đang được thay thế bằng loại quạt có đường kính 120mm đến 140mm, tạo ra lưu lượng không khí tốt hơn nhưng chỉ có tốc độ thấp từ 1600~2500 vòng/phút giúp giảm được độ ồn đáng kể. Không những làm mát cho riêng PSU, quạt của PSU còn góp phần làm giảm nhiệt cho toàn hệ thống. Tốt nhất là khi mua thùng máy, bạn nên mua luôn một chiếc quạt gắn vào phía sau thùng máy để làm giảm “gánh nặng” cho PSU.
Để có một PSU tốt đôi khi phải bỏ ra nhiều tiền hơn những thành phần khác của máy tính, nhưng điều đó hoàn toàn hợp lý, vì bạn không có sự chọn lựa nào tốt hơn cho sự ổn định và an toàn của chiếc máy tính.

nguồn sưu tầm



17 tháng 10, 2011

Hallstatt – Thành phố bên hồ đẹp không thể tả | The Lakeside City is wonderful

Có thể bạn đã đến thăm các thành phố lớn của châu Âu như Paris, London, Venice… nhưng cái tên lạ lẫm Hallstatt mới là nơi đáng dừng chân nhất.
Là thành phố nằm ở phía bắc nước Áo, tọa lạc bên hồ nước đẹp nhất thế giới và được núi non bao bọc xung quanh, cảnh quan tuyệt đẹp làm say đắm lòng người, chính vì thế mà người ta ví thành phố Hallstatt như “Viên ngọc của nước Áo”. Hallstatt có nghĩa là “Người muối” và người ta biết đến nơi này như là cái nôi của mỏ muối cổ đại nhất thế giới.
images608256_TP1
 Hallstatt như “Viên ngọc của nước Áo”
Bên cạnh hồ nước nổi tiếng nhất thế giới, Hallstatt cũng được nhiều người biết đến với nhà thờ cổ, những ngôi nhà gỗ, lâu đài thời trung cổ với lối kiến trúc độc đáo làm nên một thế giới cổ kính đầy quyến rũ thu hút khách du lịch quan trọng ở Áo. Thành phố này giờ đây là di sản văn hóa của UNESCO.
Cảnh quan đô thị của Hallstatt rất cổ kính, có những bóng đèn nhấp nháy nhưng lại không xa hoa hào nhoáng như ánh đèn của các sòng bạc Las Vegas hay ánh đèn của các tòa nhà cao chót vót ở Tokyo, New York hay Lôn Đôn, cũng không giống như các thành phố nằm dọc theo đường phố đông đúc chật hẹp như Bangkok, Morocco, Hông Kông.
images608257_TP2
 Non nước hữu tình
images608258_TP3
 Những ngôi nhà an trú trong lùm cây
Thành phố Hallstatt duy trì nét đẹp quyến rũ của thời Trung Cổ. Nét đẹp cổ kính của những ngôi nhà, cửa hàng có mái và các bức tường ốp gạch kiểu cũ làm nổi bật lên gương mặt thành phố. Bên cạnh đó là những con đường hẹp nhưng rất sạch sẽ, có những tán cây xòe rộng đủ cho lối đi bộ mà lại không che khuất các thiết bị chiếu sáng ngoài trời. Có thể nói rằng thành phố Hallstatt giống như một bản sao chính xác bước ra từ câu chuyện cổ tích “Người đẹp ngủ trong rừng” của Disney.
Thành phố Hastatt còn là một nhân chứng lịch sử lâu dài của quá trình tiến hóa. Nằm bên bờ hồ xinh đẹp, cộng thêm những mỏ muối tiềm năng nên Hastatt thu hút con người định cư sớm nhất khoảng 7.000 năm trước. Thành phố lại tiếp tục đón nhận sự ra đời của nghành công nghiệp khai thác mỏ muối rất phát triển, hưng thịnh và nhanh chóng trở thành một ngành độc quyền cho người lao động trong thế kỉ 14. Nhưng đến thế kỉ 17 thì ngành công nghiệp này không còn giữ vị trí độc tôn nữa mà rơi vào tình trạng suy thoái phải đóng cửa.
images608260_TP5
 Kiến trúc như mọc ra từ cảnh quan thiên nhiên
Sau này, một thương nhân có tên là Johann Ignaz Etzinger đã quay lại thành phố Hallstatt, dựng lên một bức tượng Thiên Chúa Ba Ngôi để tưởng nhớ về một thời vinh quang của thành phố – nơi khởi đầu cho ngành công nghiệp muối và mang lại sự phồn thịnh cho thành phố đến bây giờ. Ngày nay, bức tượng đã trở thành một trong những điểm thu hút phổ biến nhất ở Hallstatt.
Thành phố Hallstatt không chỉ có các mỏ muối lâu đời nhất thế giới, mà các nhà khảo cổ học còn khai quật được 5.000 thi thể, được chôn trong một nghĩa trang tại trung tâm thành phố trong thời kì đồ đá mới.
Hallstatt là một thành phố du lịch hoàn hảo cho du khách. Bất kì mùa nào trong năm cũng nào là mùa du lịch. Trong suốt mùa hè, thành phố là thiên đường cho những người thích phiêu lưu mạo hiểm, đi bộ đường dài, leo núi, cắm trại, khám phá hang động muối tuyệt vời… Có thể nói mùa hè là mùa mà khiến cho thành phố sôi nổi và náo nhiệt nhất. Nhưng mùa đông thành phố cũng không kém phần sinh động vì sự góp mặt của các lễ hội. Đặc biệt lễ Giáng Sinh là khoảng thời gian hoàn hảo nhất cho gia đình và người thân của bạn. Vào ngày đó các con phố được trang trí bằng đèn Giáng Sinh nhấp nháy, cây trạng nguyên, cây tầm gửi và các đồ trang trí Giáng Sinh tuyệt vời khác nữa.
images608261_TP6
 Bến du thuyền
images608262_TP7
 Quảng trường xinh xắn của thành phố
 
Không khí trong dịp Giáng Sinh se lạnh, nhưng bạn sẽ không cảm giác lạnh lẽo khi cùng với người dân bản địa đón Giáng Sinh trong tình yêu thương, thân thiện và nồng thắm. Nước Áo là chiếc nôi của âm nhạc, cho nên các ngày lễ như thế này thì nhạc kịch – một món ăn tinh thần không thể thiếu diễn ra tại trung tâm thành phố.
Bất cứ ai cũng có thể dễ dàng thưởng thức văn hóa và phong cảnh thành phố, bằng cách đi xe đạp dạo quanh thành phố 7.000 năm tuổi. Nhưng trong thực tế, thành phố cổ kính và bình dị Hallstatt có thể bạn chỉ mất khoảng 30 đi bộ là có khám phá hết tất cả các ngõ ngách.
images608264_TP9
Mùa đông ở Hallstatt
 
Khi đến Hallstatt, bạn không nên bỏ lỡ chuyến viếng thăm bảo tàng di sản văn hóa. Điểm nổi bật của bảo tàng là trưng bày những công cụ khai thác mỏ muối lâu đời nhất. Những trang thiết bị 5.000 năm tuổi. Tất cả những thông tin lịch sử của mỏ muối cũng như quá trình sản xuất mà bạn muốn được tìm hiểu đều có trong bảo tàng này. Một địa điểm thứ hai nữa là Beinhaus có nghĩa là “ Nhà xương” là nơi trưng bày những hộp sọ và xương người được đào lên từ nghĩa địa trung tâm thành phố, được người ta đem về lưu giữ tại đây.
(Theo Tuệ Tâm – BĐVN)

Các mô hình quy hoạch đô thị: “Đơn vị ở” và phiên bản Redburn

Sự sơ xẩy của tác giả khi gọi mô hình của Clarence Perry chỉ bằng cụm từ “đơn vị ở” dường như đã vô tình làm câu chuyện của chúng ta trở nên thú vị hơn. Độc giả và ban biên tập đều muốn biết thêm về số phận của mô hình cũng những phiên bản của nó trên khắp thế giới và tại Việt Nam. Trong khi đó, bản thân tác giả thì giật mình nhận ra rằng trong các khái niệm quy hoạch Anglo Saxon không tồn tại “đơn vị ở” mặc dù cụm từ này được sử dụng tràn lan tại Việt Nam và được định nghĩa trong Quy chuẩn Xây dựng quốc gia.

Mặt bằng khu Redburn
Tên gọi chính xác của mô hình mà Clarence Perry, một nhà xã hội học, đã đề xuất là “neighborhood unit” vốn được biết đến ở Việt Nam bằng cụm từ “đơn vị láng giềng”. Thực tế thì trong tiếng Anh, từ “neighborhood” được dùng tương đương như từ “community” để chỉ một khu dân cư. Tuy nhiên, có lẽ Perry đã tránh dùng từ “community” vốn có nghĩa quá rộng và diễn giải: “đơn vị láng giềng” là một trong 3 cấp cộng đồng của một vùng đô thị lớn (regional community – cộng đồng vùng, city community – cộng đồng thành phố và neighborhood community – cộng đồng láng giềng). Ông cũng đề xuất việc áp dụng “đơn vị láng giềng” không chỉ đối với các khu dân cư ngoại ô có mật độ thấp như nhiều người vẫn làm tưởng mà cả đối với các khu chung cư và khu dân cư kết hợp công nghiệp – thương mại và giao thông đường sắt.
Trong khi đó, “đơn vị ở” vốn là phiên bản tiếng Việt của “unité d’ habitation” – thuật ngữ mà kiến trúc sư Le Corbusier gọi một module nhà chung cư mà ông đề xuất với cách tiếp cận hoàn toàn đối lập với “đơn vị láng giềng” của Clarence Perry. Điều thú vị là hầu hết các tài liệu học thuật và pháp luật liên quan đến quy hoạch xây dựng tại Việt Nam đều diễn đạt “đơn vị ở” giống như những ý tưởng cơ bản do Clarence Perry đề xuất trong mô hình “đơn vị láng giềng”. Và chúng ta có thể chấp nhận ý tưởng của Perry như là một trong những nền tảng đầu tiên của các mô hình “đơn vị ở” sau này.
  • Ảnh bên : Măt bằng một nhóm ở trong khu Redburn
Một trong những ứng dụng tức thời của “đơn vị láng giềng” là dự án kinh điển Redburn ở tiểu bang New Jersey. Tác giả của Redburn, Clarence Stein (1882-1975), là một trong những nhà đô thị ảnh hưởng nhất tại Hoa Kỳ trong thế kỷ 20 và là người tiên phong trong đề xuất và ứng dụng nhiều mô hình quy hoạch tại quốc gia này. Là người đứng đầu cơ quan phụ trách vấn đề quy hoạch vùng của New York, Stein không chỉ học hỏi từ lý thuyết của Clarence Perry. Ông lặn lội qua tận nước Anh để nghiên cứu những thành phố vườn đầu tiên ở Welwyn và Letchworth. Trở về Mỹ, ông đề xuất thiết kế tại Redburn những ô phố lớn rộng từ 12 đến 20 ha (superblock) không có giao thông xuyên cắt và những nhóm nhà gắn vào một trục công viên với 15 – 20 căn nhà quay xung quanh những con đường cụt (cul-de-sac). Ông cũng học hỏi cách phân tách đường đi bộ và đường giành cho giao thông cơ giới mà kiến trúc sư cảnh quan Federick Law Olmsted trong thiết kế công viên Central Park, New York. Bản quy hoạch Redburn, hoàn thành năm 1930, kiến tạo một cộng đồng 25.000 người với những dải công viên liên tiếp kết nối từng nhóm nhà ở biệt lập, yên tĩnh với trường học, nhà trẻ, sân chơi và khu thương mại. Tại Redburn, không có bất cứ ai phải băng qua những con đường xe ô tô chạy để tiếp cận với tiện ích xã hội. Stein viết trong tác phẩm “Towards New Towns for America”: “chúng tôi đã nỗ lực hết mình để theo đuổi đề xuất của Aristotle rằng một thành phố cần được xây dựng để mang lại cho cư dân sự an toàn và hạnh phúc”.
Tài liệu tham khảo:
  • Perry, C. (1929). Neighborhood and Community Planning trong Volume VII,Regional Plan of New York and íts Environs. New York: New York City;
  • Stein, C. (1957). Towards New Towns for America. Cambridge, MA: MIT Press.
Nguyễn Đỗ Dũng

Các mô hình quy hoạch đô thị: “Polis”

Con người luôn cố gắng giải quyết các vấn đề của cộng đồng và từng cá nhân thông qua đề xuất mới hoặc cải thiện mô hình tổ chức xã hội. Từ góc nhìn của các nhà đô thị học, quy hoạch sư và kiến trúc sư, mục đích xuyên suốt của các mô hình là nhằm tạo môi trường trong đó con người sống hài hòa với con người và với thiên nhiên.
Từ mô hình polis (tạm dịch: thành bang) của người Hy Lạp, Thành phố vườn (Garden City) của Ebnezer Howard, Đơn vị cư trú (Unité d’Habitation) của Le Corbusier, Đơn vị quy hoạch cộng đồng (Neighborhood Planning Unit) của Clarence Perry tới mô hình Đô thị mới (New Urbanism) khởi đầu từ Léon Krier … các mô hình quy hoạch đô thị đã đề xướng những hình thức quy hoạch khác nhau cùng nhằm mục đích nâng cao tính cố kết cộng động, sự giao tiếp giữa con người với con người bên cạnh việc giải quyết các vấn đề xã hội khác của thời đại.
  • Ảnh bên : Nhà hát Dionysus, Athen, thế kỷ 5 trước Công Nguyên.
Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá mô hình polis của Hy Lạp cổ đại, nền văn minh mà tư tưởng dân chủ và tư duy khoa học đã trở thành nền tảng cho văn mình phương Tây kế thừa và phát triển. Polis là những cộng đồng độc lập được quản lý bởi hội đồng công dân xuất hiện vào khoảng thế kỷ 5 trước Công Nguyên tại Hy Lap. Kiến trúc của các polis nhấn mạnh vào không gian công cộng quy mô lớn và thường xây dựng bằng đá cẩm thạch như các đền thờ, sân vận động, quảng trường (agora) và các nhà hát như kiệt tác nhà hát Dionnysus tại Athen. Công trình nhà ở thường thấp tầng và quay lưng ra đường phố.
Nhưng không chỉ các công trình công cộng của polis ghi dấu ấn vào lịch sử đô thị, những ý tưởng về tổ chức xã hội trong các polis vẫn còn mê hoặc nhân loại hơn 2000 năm. Trong tác phẩm Politics (Chính trị học), triết gia Aristotle đề xuất quy mô lý tưởng của một polis là 5000 công dân, một quy mô “đủ nhỏ để tiếng nói của mỗi công dân được lắng nghe bởi cả cộng động nhưng đủ lớn để có thể (hình thành nền kinh tế) tự cung, tự cấp”. Người đọc có thể ngạc nhiên về quy mô dân số nhỏ bé này nhưng thực tế thì chỉ những người đàn ông trưởng thành tự do được gọi là “công dân”. Do đó, quy mô dân số thực tế của một polis có thể gấp hơn 10 lần số công dân của nó nếu tính thêm các bà vợ, trẻ em, nô lệ và người ngoại bang. Aristotle cho rằng, bằng giọng văn hóm hỉnh của mình, rằng một polis chỉ có 10 công dân là không thể vì polis đó không thể tự tồn tại, nhưng một polis có 100.000 công dân thị lại quá đông để có thể quản lý.
Điều thú vị là kiến trúc công cộng và tổ chức xã hội không phải là những câu chuyện thành công riêng lẻ của mô hình polis. Sử gia người Ạnh Humphrey Kitto (1897-1982) nhận định rằng cuộc sống và mối liên hệ cộng đồng hình thành dễ dàng trong polis nhờ “tỉ lệ nhỏ nhắn của không gian vật chất”. Thiết kế theo tỉ lệ con người (human-scaled design) nhằm đạt được sự hài hòa trong quan hệ và tính cấu kết cộng đồng tiếp tục là hòn đá tảng trong các mô hình quy hoạch hiện đại.
Nếu đô thị là biểu tượng của nền văn mình (chữ “city” có gốc là “civiliazation”), thì đô thị cũng đã trở thành công cụ văn hóa để qua đó con người nỗ lực đạt được một khái niệm cộng đồng đầy đủ hơn. Trong tác phẩm của mình, Aristotle gọi con người là “zoon politikon” – những sinh vật sống trong một polis – để nhấn mạnh rằng polis, hay cộng đồng, là không gian duy nhất để một con người có thể “hiện thực đầy đủ năng lực tinh thần, đạo đức và trí tuệ” của chính mình.
Tài liệu tham khảo:
LeGates, R & Stout F. (2003).  The City Reader (ed. 3rd.). New York, NY: Routledge
Nguyễn Đỗ Dũng