Chữ Chạy

NẾU TIỀN LÀM CHO CÁC BẠN KHÔNG VUI HÃY ĐƯA NÓ CHO TÔI

Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Quy Hoạch Đô Thị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quy Hoạch Đô Thị. Hiển thị tất cả bài đăng

17 tháng 10, 2011

Các mô hình quy hoạch đô thị: “Đơn vị ở” và phiên bản Redburn

Sự sơ xẩy của tác giả khi gọi mô hình của Clarence Perry chỉ bằng cụm từ “đơn vị ở” dường như đã vô tình làm câu chuyện của chúng ta trở nên thú vị hơn. Độc giả và ban biên tập đều muốn biết thêm về số phận của mô hình cũng những phiên bản của nó trên khắp thế giới và tại Việt Nam. Trong khi đó, bản thân tác giả thì giật mình nhận ra rằng trong các khái niệm quy hoạch Anglo Saxon không tồn tại “đơn vị ở” mặc dù cụm từ này được sử dụng tràn lan tại Việt Nam và được định nghĩa trong Quy chuẩn Xây dựng quốc gia.

Mặt bằng khu Redburn
Tên gọi chính xác của mô hình mà Clarence Perry, một nhà xã hội học, đã đề xuất là “neighborhood unit” vốn được biết đến ở Việt Nam bằng cụm từ “đơn vị láng giềng”. Thực tế thì trong tiếng Anh, từ “neighborhood” được dùng tương đương như từ “community” để chỉ một khu dân cư. Tuy nhiên, có lẽ Perry đã tránh dùng từ “community” vốn có nghĩa quá rộng và diễn giải: “đơn vị láng giềng” là một trong 3 cấp cộng đồng của một vùng đô thị lớn (regional community – cộng đồng vùng, city community – cộng đồng thành phố và neighborhood community – cộng đồng láng giềng). Ông cũng đề xuất việc áp dụng “đơn vị láng giềng” không chỉ đối với các khu dân cư ngoại ô có mật độ thấp như nhiều người vẫn làm tưởng mà cả đối với các khu chung cư và khu dân cư kết hợp công nghiệp – thương mại và giao thông đường sắt.
Trong khi đó, “đơn vị ở” vốn là phiên bản tiếng Việt của “unité d’ habitation” – thuật ngữ mà kiến trúc sư Le Corbusier gọi một module nhà chung cư mà ông đề xuất với cách tiếp cận hoàn toàn đối lập với “đơn vị láng giềng” của Clarence Perry. Điều thú vị là hầu hết các tài liệu học thuật và pháp luật liên quan đến quy hoạch xây dựng tại Việt Nam đều diễn đạt “đơn vị ở” giống như những ý tưởng cơ bản do Clarence Perry đề xuất trong mô hình “đơn vị láng giềng”. Và chúng ta có thể chấp nhận ý tưởng của Perry như là một trong những nền tảng đầu tiên của các mô hình “đơn vị ở” sau này.
  • Ảnh bên : Măt bằng một nhóm ở trong khu Redburn
Một trong những ứng dụng tức thời của “đơn vị láng giềng” là dự án kinh điển Redburn ở tiểu bang New Jersey. Tác giả của Redburn, Clarence Stein (1882-1975), là một trong những nhà đô thị ảnh hưởng nhất tại Hoa Kỳ trong thế kỷ 20 và là người tiên phong trong đề xuất và ứng dụng nhiều mô hình quy hoạch tại quốc gia này. Là người đứng đầu cơ quan phụ trách vấn đề quy hoạch vùng của New York, Stein không chỉ học hỏi từ lý thuyết của Clarence Perry. Ông lặn lội qua tận nước Anh để nghiên cứu những thành phố vườn đầu tiên ở Welwyn và Letchworth. Trở về Mỹ, ông đề xuất thiết kế tại Redburn những ô phố lớn rộng từ 12 đến 20 ha (superblock) không có giao thông xuyên cắt và những nhóm nhà gắn vào một trục công viên với 15 – 20 căn nhà quay xung quanh những con đường cụt (cul-de-sac). Ông cũng học hỏi cách phân tách đường đi bộ và đường giành cho giao thông cơ giới mà kiến trúc sư cảnh quan Federick Law Olmsted trong thiết kế công viên Central Park, New York. Bản quy hoạch Redburn, hoàn thành năm 1930, kiến tạo một cộng đồng 25.000 người với những dải công viên liên tiếp kết nối từng nhóm nhà ở biệt lập, yên tĩnh với trường học, nhà trẻ, sân chơi và khu thương mại. Tại Redburn, không có bất cứ ai phải băng qua những con đường xe ô tô chạy để tiếp cận với tiện ích xã hội. Stein viết trong tác phẩm “Towards New Towns for America”: “chúng tôi đã nỗ lực hết mình để theo đuổi đề xuất của Aristotle rằng một thành phố cần được xây dựng để mang lại cho cư dân sự an toàn và hạnh phúc”.
Tài liệu tham khảo:
  • Perry, C. (1929). Neighborhood and Community Planning trong Volume VII,Regional Plan of New York and íts Environs. New York: New York City;
  • Stein, C. (1957). Towards New Towns for America. Cambridge, MA: MIT Press.
Nguyễn Đỗ Dũng

Các mô hình quy hoạch đô thị: “Polis”

Con người luôn cố gắng giải quyết các vấn đề của cộng đồng và từng cá nhân thông qua đề xuất mới hoặc cải thiện mô hình tổ chức xã hội. Từ góc nhìn của các nhà đô thị học, quy hoạch sư và kiến trúc sư, mục đích xuyên suốt của các mô hình là nhằm tạo môi trường trong đó con người sống hài hòa với con người và với thiên nhiên.
Từ mô hình polis (tạm dịch: thành bang) của người Hy Lạp, Thành phố vườn (Garden City) của Ebnezer Howard, Đơn vị cư trú (Unité d’Habitation) của Le Corbusier, Đơn vị quy hoạch cộng đồng (Neighborhood Planning Unit) của Clarence Perry tới mô hình Đô thị mới (New Urbanism) khởi đầu từ Léon Krier … các mô hình quy hoạch đô thị đã đề xướng những hình thức quy hoạch khác nhau cùng nhằm mục đích nâng cao tính cố kết cộng động, sự giao tiếp giữa con người với con người bên cạnh việc giải quyết các vấn đề xã hội khác của thời đại.
  • Ảnh bên : Nhà hát Dionysus, Athen, thế kỷ 5 trước Công Nguyên.
Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá mô hình polis của Hy Lạp cổ đại, nền văn minh mà tư tưởng dân chủ và tư duy khoa học đã trở thành nền tảng cho văn mình phương Tây kế thừa và phát triển. Polis là những cộng đồng độc lập được quản lý bởi hội đồng công dân xuất hiện vào khoảng thế kỷ 5 trước Công Nguyên tại Hy Lap. Kiến trúc của các polis nhấn mạnh vào không gian công cộng quy mô lớn và thường xây dựng bằng đá cẩm thạch như các đền thờ, sân vận động, quảng trường (agora) và các nhà hát như kiệt tác nhà hát Dionnysus tại Athen. Công trình nhà ở thường thấp tầng và quay lưng ra đường phố.
Nhưng không chỉ các công trình công cộng của polis ghi dấu ấn vào lịch sử đô thị, những ý tưởng về tổ chức xã hội trong các polis vẫn còn mê hoặc nhân loại hơn 2000 năm. Trong tác phẩm Politics (Chính trị học), triết gia Aristotle đề xuất quy mô lý tưởng của một polis là 5000 công dân, một quy mô “đủ nhỏ để tiếng nói của mỗi công dân được lắng nghe bởi cả cộng động nhưng đủ lớn để có thể (hình thành nền kinh tế) tự cung, tự cấp”. Người đọc có thể ngạc nhiên về quy mô dân số nhỏ bé này nhưng thực tế thì chỉ những người đàn ông trưởng thành tự do được gọi là “công dân”. Do đó, quy mô dân số thực tế của một polis có thể gấp hơn 10 lần số công dân của nó nếu tính thêm các bà vợ, trẻ em, nô lệ và người ngoại bang. Aristotle cho rằng, bằng giọng văn hóm hỉnh của mình, rằng một polis chỉ có 10 công dân là không thể vì polis đó không thể tự tồn tại, nhưng một polis có 100.000 công dân thị lại quá đông để có thể quản lý.
Điều thú vị là kiến trúc công cộng và tổ chức xã hội không phải là những câu chuyện thành công riêng lẻ của mô hình polis. Sử gia người Ạnh Humphrey Kitto (1897-1982) nhận định rằng cuộc sống và mối liên hệ cộng đồng hình thành dễ dàng trong polis nhờ “tỉ lệ nhỏ nhắn của không gian vật chất”. Thiết kế theo tỉ lệ con người (human-scaled design) nhằm đạt được sự hài hòa trong quan hệ và tính cấu kết cộng đồng tiếp tục là hòn đá tảng trong các mô hình quy hoạch hiện đại.
Nếu đô thị là biểu tượng của nền văn mình (chữ “city” có gốc là “civiliazation”), thì đô thị cũng đã trở thành công cụ văn hóa để qua đó con người nỗ lực đạt được một khái niệm cộng đồng đầy đủ hơn. Trong tác phẩm của mình, Aristotle gọi con người là “zoon politikon” – những sinh vật sống trong một polis – để nhấn mạnh rằng polis, hay cộng đồng, là không gian duy nhất để một con người có thể “hiện thực đầy đủ năng lực tinh thần, đạo đức và trí tuệ” của chính mình.
Tài liệu tham khảo:
LeGates, R & Stout F. (2003).  The City Reader (ed. 3rd.). New York, NY: Routledge
Nguyễn Đỗ Dũng

Các mô hình quy hoạch đô thị: “Thành phố Vườn”

Từ cuối thế kỷ XVIII, niềm khao khát giải quyết các bất cập của đô thị công nghiệp như sự xuống cấp của môi trường sống và sự tan vỡ của các cộng đồng truyền thống dẫn đến sự ra đời của nhiều mô hình quy hoạch đô thị. Những dự án đầu tiên thuộc về những nhà công nghiệp như Titus Salt xây dựng khu dân cư Saltaire tại Bradford (Anh) vào năm 1853, chủ nhà máy dệt David Dale xây khu New Lanark ở Scotland vào năm 1789. Những dự án như vậy thể hiện 3 mục tiêu của những người khởi xướng: 1/ di chuyển nhà máy ra vùng ngoại ô; 2/ cung cấp nhà ở tử tế cho công nhân và 3/ tách biệt khu dân cư với các nhà máy công nghiệp. Khu Saltaire thậm chí còn có cả trường học, khu thể dục – thể thao, nhà thờ và khu giặt giũ công cộng (nhằm tránh việc các hộ gia đình phơi quần áo ngoài nhà làm mất mỹ quan).
  • Ảnh bên: Bản vẽ của Ebenezer Howard mô tả Đô thị Vệ tinh – một cụm các Thành phố Vườn phát triển xung quanh một thành phố trung tâm.
Trong số những người tham gia vào công cuộc cải cách xã hội và cải thiện môi trường sống, Ebenezer Howard (1850 – 1928) với mô hình Thành phố Vườn(Garden City) đã trở thành một trong những người tiên phong có ảnh hưởng lớn nhất mọi thời đại. Howard không phải là một nhà quy hoạch chuyên nghiệp, công việc mà ông từng làm để kiếm sống là thư ký tòa án, nhưng là một người ham học hỏi, có óc quan sát và quan tâm đến việc làm sao để nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Ý tưởng vể Thành phố Vườn của ông bắt đầu hình thành qua việc tổng hợp mô hình từ những dự án khu dân cư mới do các nhà công nghiệp khởi xướng. Ông cũng tiếp thu nhiều ý tưởng của các nhà khoa học đương thời như nhà kinh tế  Alfred Marshall – người đề xuất xây dựng các khu đô thị mới để giải quyết các bất cập của đô thị cũ. Marshall đã nhận ra, vào những năm 80 của thế kỷ 19, rằng cộng đồng rồi sẽ phải trả phí xã hội (social cost) gây ra do chất lượng nhà ở và môi trường sống tồi tệ ở các thành phố lớn.
Mô hình Thành phố Vườn do Howard đề xuất là một cộng đồng có quy mô 30.000 người sinh sống trên một diện tích 400 ha với cấu trúc hướng tâm và được bao quanh bởi vành đai xanh là 2000 ha đất nông nghiệp. Ý niệm xã hội đằng sau mô hình Thành phố Vườn chính là niềm tin của Howard rằng cuộc sống trong những khu dân cư mật độ trung bình và thấp, gần gũi với thiên nhiên như những làng quê truyền thống nước Anh sẽ giúp thắt chặt mối quan hệ cộng đồng và làm giảm bớt những căn bệnh xã hội của đô thị hiện đại. Khi một Thành phố Vườn đạt quy mô dân số quy ước 30.000 người, thì một Thành phố Vườn mới sẽ được phát triển bên cạnh. Howard dự tính một tập hợp các Thành phố Vườn được phát triển xung quanh một thành phố trung tâm có dân số 50.000 người như những vệ tinh và được kết nối với nhau bằng hệ thống đường bộ và đường sắt. Đó chính là mô hình đô thị vệ tinh.
Những ý tưởng xã hội và quy hoạch mà Howard gửi gắm trong Thành phố Vườn không bao giờ thành hiện thực một cách trọn vẹn dù rất nhiều phiên bản được phát triển trên khắp thế giới. Nhu cầu tài chính quá lớn để thực hiện dự án, áp lực về giá đất do áp dụng giới hạn phát triển, sự thiếu quyết tâm của chính quyền trong vấn đề phát triển giao thông công cộng, bảo tồn đất nông nghiệp là những thực tế cuộc sống thách thức (và nhiều khi làm thất bại) mô hình Garden City cũng như mô hình đô thị vệ tinh.
Tài liệu tham khảo:
  • Davis, W. & Herbert, D. (1993). Communities within Cities: an Urban Social Geography. London: Belhaven Press;
  • Hall, P. (1992). Urban & Regional Planning (3rd). New York, NY: Routledge.
Nguyễn Đỗ Dũng

Đô thị vệ tinh trên giấy, cao ốc lấp đầy trung tâm



Bốn khu đô thị vệ tinh của TP.HCM được quy hoạch cách đây gần mười năm, với mục đích giãn dân, là một trong những giải pháp lý tưởng cho việc giảm tải khu vực nội thành. Tuy nhiên, sau nhiều năm thực hiện, đến nay, hầu hết những khu đô thị này vẫn chưa ló dạng. Trong khi đó, ở khu vực trung tâm, những toà nhà cao tầng vẫn đua nhau mọc lên. Sự tréo ngoe này khiến người ta nghi ngờ những giải pháp giảm ùn tắc giao thông gần đây chỉ là giải pháp tình thế.
Độ nén đến nghẹt thở
Chỉ có hơn 5.000m2, nằm lọt thỏm trong khu vực vốn đã đông đúc ở trung tâm quận 1, nhưng cao ốc Bitexco được xây cao đến 68 tầng. Theo quảng cáo, toà nhà sẽ cung ứng cho thị trường trên 38.000m2 diện tích văn phòng hạng A+ theo tiêu chuẩn quốc tế và trên 8.000m2 diện tích của sáu tầng dành cho khu trung tâm thương mại, đáp ứng nhu cầu làm việc của gần 10.000 người trong toà nhà.
Từ năm 2008 đến nay có khoảng 130 dự án cao ốc được cấp phép, trong đó có đến hơn 70 dự án nằm ở lõi khu vực trung tâm. 
Thử hình dung, một khi toà nhà này được khai thác hết công năng thì đường sá, không gian nào đủ cho số lượng người như vậy ra vào toà nhà này hàng ngày? Có người nói đùa, Bitexco cần làm cầu vượt nối toà cao ốc này ra sông Sài Gòn để những người làm việc ở đây đi bằng đường sông, tránh bị kẹt ở khu trung tâm.
Trong khi đó, theo nghiên cứu của công ty Savill Việt Nam về thị trường căn hộ tại TP.HCM cho thấy, chỉ trong quý 3/2011, tại khu vực nội thành TP.HCM có khoảng 60 dự án căn hộ dịch vụ, cung cấp 3.200 căn, tăng 2% so với quý trước và 9% so với cùng kỳ năm trước. Quận 1 chiếm thị phần cao nhất về số căn hộ với 48% tổng nguồn cung do có vị trí tốt nhất trong thành phố. Nếu nhân lên cho mấy năm nay thì con số về căn hộ ra đời tại khu vực trung tâm là hàng chục ngàn. Và theo dự báo của công ty tư vấn bất động sản Knight Frank, trong thời gian tới, quận 1 tiếp tục là quận dẫn đầu về nguồn cung căn hộ dịch vụ.
Theo thống kê của sở Xây dựng TP.HCM, từ năm 2008 đến nay có khoảng 130 dự án cao ốc được cấp phép, trong đó có đến hơn 70 dự án nằm ở lõi khu vực trung tâm.
Dự án tiếp nối dự án
Đường Nguyễn Đình Chiểu vốn là đường nhỏ hẹp, xe cộ hiện nay chỉ cho chạy một chiều. Tuy nhiên, một dự án mang tên cao ốc C.T Plaza với chiều cao 24 tầng sẽ xuất hiện trong nay mai. Theo giới thiệu, cao ốc này chủ yếu dành làm trung tâm thương mại, văn phòng cho thuê cộng thêm 200 căn hộ cao cấp… Người ta không hình dung nổi đường Nguyễn Đình Chiểu sẽ ra sao khi cả ngàn người đổ dồn về đây cùng lúc?

Tại các đô thị của nước ta, tuy tập trung xây dựng các cao ốc nhưng vẫn sử dụng hệ thống giao thông hiện hữu của thành phố, là không hợp lý, và tắc đường, kẹt xe là điều tất yếu. 
Trung tâm Phát triển quỹ đất TP.HCM đã trình UBND thành phố danh sách 60 khu đất vàng dự kiến đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất trong thời gian tới. Đa phần là các dự án xây dựng khách sạn, khu trung tâm thương mại và căn hộ… Theo nhiều chuyên gia dự báo, nếu tất cả các khu đất này có chủ đầu tư thì chỉ nay mai, lượng người và xe di chuyển vào trung tâm thành phố sẽ càng trở nên đông đáng sợ.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, hầu hết các dự án chỉnh trang cải tạo những khu nhà ở thấp tầng thành cao tầng đều được các chủ đầu tư chuyển đổi mục đích sử dụng thành khu thương mại, dịch vụ, văn phòng. Do vậy, số người làm việc tại khu vực này ngày càng tăng cao.
Quan điểm của ông Nguyễn Trọng Hoà, viện trưởng viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM là: việc xây dựng các cao ốc là một hệ quả tất yếu của một quá trình phát triển đô thị. Ví như, muốn hết ngập, chúng ta phải chịu cực khổ, chịu bực mình về đào đường. Muốn có một đô thị lớn, một trung tâm kinh tế văn hoá thì phải có những cao ốc mọc lên. Quan trọng là chúng ta phải biết chịu cực trước mắt để nhìn về cái lâu dài. Trong thời gian qua, nếu các sở ngành không cho xây dựng nhà cao tầng ở những vị trí lõi trung tâm thì chúng ta cấp phép cho xây ở đâu? Khu đô thị mới Thủ Thiêm thì chưa hoàn thành, các khu đô thị vệ tinh khác thì mới hình thành trên giấy.
Theo ông Hoà, nói như vậy, không có nghĩa là cứ phát triển xây dựng nhà cao tầng tràn lan cũng là một đô thị. Quan trọng là xây dựng nhà cao tầng thường gắn liền với hệ thống giao thông. Trong bản thiết kế quy hoạch khu vực trung tâm 930ha thì yếu tố nhà cao tầng với đường giao thông đô thị được phối hợp một cách hài hoà. Cụ thể như, khi xây dựng một tuyến đường sắt đô thị thì sẽ có bao nhiêu nhà cao tầng mọc lên ở tuyến đường đó, khi xây dựng hai tuyến thì thêm bao nhiêu toà nhà nữa… TP.HCM cũng đang từng bước thực hiện theo quy hoạch này. Nhưng để nên hình, nên dạng thì phải chờ đợi thời gian, chờ đợi vốn để đầu tư, chờ hoàn thiện cơ chế chính sách…
Đứng về góc cạnh của một kiến trúc sư, ông Nguyễn Trường Lưu, phó chủ tịch hội Kiến trúc sư TP.HCM cũng cho rằng, trong trung tâm của một đô thị, việc tập trung xây dựng các cao ốc với các chức năng khác nhau, như cao ốc văn phòng, khách sạn, nhà ở, dịch vụ thương mại… với độ nén về mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất cao là điều tất yếu của một đô thị hiện đại. Tuy nhiên, sự nén và đậm đặc các công trình cao ốc ở đây, bao giờ cũng được nghiên cứu đồng bộ với hệ thống kỹ thuật hạ tầng. Các công trình xây dựng đều được nghiên cứu tiếp cận với hệ thống giao thông công cộng như hệ thống xe buýt, tàu điện ngầm… để tiện lợi cho người dân. Còn tại các đô thị của nước ta, tuy tập trung xây dựng các cao ốc nhưng vẫn sử dụng hệ thống giao thông hiện hữu của thành phố, là không hợp lý, và tắc đường, kẹt xe là điều tất yếu.
Theo ông Lưu, đến nay, hệ thống quy hoạch chung về giao thông của thành phố chưa được nghiên cứu để phát triển đồng bộ.
Dự án quy hoạch bốn khu đô thị vệ tinh của TP.HCM
Theo quy hoạch, TP.HCM đến năm 2025 sẽ phát triển theo hướng đa tâm với trung tâm tổng hợp tại khu vực nội thành cũ và các khu đô thị vệ tinh theo bốn hướng: bắc, đông, tây, nam.
66903499547ee2c331bdabdc2ef6ba3e.jpg
Theo quy hoạch TP.HCM đến năm 2025 sẽ phát triển theo hướng đa tâm với trung tâm tổng hợp tại khu vực nội thành cũ và các khu đô thị vệ tinh theo bốn hướng: bắc, đông, tây, nam.
Khu đô thị Đông TP.HCM: hạt nhân là khu công nghệ cao với quy mô 872ha, khu đại học Quốc gia có quy mô 800ha, công viên Văn hoá lịch sử dân tộc quy mô 395ha… Những cụm khu đô thị này khi nhìn tổng thể sẽ tạo thành khu đô thị khoa học – công nghệ ở Thủ Đức và quận 9.
Khu đô thị Bắc TP.HCM: nằm gọn trên địa bàn hai huyện Củ Chi và Hóc Môn, sát trục giao thông mang tính chiến lược là quốc lộ 22 kết nối TP.HCM – Tây Ninh, giáp Long An; cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km. Giai đoạn 1 của khu đô thị Tây Bắc được quy hoạch với diện tích khoảng 6.000ha, dự kiến mở rộng lên khoảng 9.000ha ở giai đoạn 2. Đây sẽ là một trung tâm thương mại, y tế, thể dục, thể thao… cấp thành phố, với 11 phân khu chức năng như khu trung tâm công cộng, khu thương mại, dịch vụ, y tế, công nghiệp, kho bãi trung chuyển…
Khu đô thị Nam TP.HCM: trọng tâm là khu đô thị Nam Sài Gòn (quận 7) và khu đô thị cảng Hiệp Phước. Khu đô thị Nam Sài Gòn bao gồm quận 7 (phường Tân Phong, Tân Phú với diện tích 868ha); nam quận 8 (một phần phường 7 với diện tích 268ha); nam huyện Bình Chánh (xã An Phú Tây, Phong Phú, Bình Hưng, Hưng Long với diện tích 1.839ha). Quy mô diện tích điều chỉnh là 2.975ha tổng diện tích tự nhiên (tổng diện tích phê duyệt trước đây chỉ 2.612ha). Khu đô thị cảng Hiệp Phước, huyện Nhà Bè với diện tích 3.900ha, dự kiến dân số 180.000 người (năm 2020).
Khu đô thị Tây TP.HCM: nằm gọn tại huyện Bình Chánh có diện tích khoảng 500ha. Ở khu đô thị này sẽ phát triển những cụm nhà ở, trung tâm thương mại quy mô lớn nhằm thay đổi bộ mặt đô thị tại phía tây TP.HCM.
Theo SGTT